X

Showing posts with label XHCN. Show all posts
Showing posts with label XHCN. Show all posts

Thursday, January 8, 2015

Những câu trả lời nào cho năm 2015 và tiếp theo?

 

Những câu trả lời nào cho năm 2015 và tiếp theo?

Nguyễn Trung

Thành một thói quen của lo toan và hy vọng, trước khi bước vào năm 2015 đã có không ít ý kiến nhìn lại năm 2014 và đưa ra các dự báo, các mong mỏi cho đất nước ta năm 2015, cả những điều hoài nghi, trăn trở nữa, một số dự báo… Có thể đọc được những điều này trên rất nhiều trang báo chí các loại ở cả hai bên “lề” tráiphải, trên giấy cũng như trên mạng, trong và ngoài nước, của người nước ngoài không tính…


Từ những gì đọc được, tôi chia sẻ với nhiều tiếng nói của hy vọng, không phải để tự trấn an, mà để cùng với mọi người cố tìm ra những câu trả lời nghiêm túc cần thiết cho những bước đi tiếp của đất nước. Đơn giản vì tôi cũng phải giải đáp những lo lắng của chính mình, trước khi nghĩ tiếp.

Ngoảnh lại, trong bài “Ngã ba 2007[1] tôi đã đi đến kết luận dứt khoát:
“Sống hay là chết!… Đất nước phải dấn lên bước vào một thời kỳ phát triển mới!… Hoặc là năm 2007 sẽ đánh dấu sự mở đầu bước vào một thời kỳ mới với sự lựa chọn dứt khoát chuyển sang sự phát triển năng động và bền vững để đi lên, hoặc là để cho thời cơ tuột tay và mọi yếu kém hiện có lấn át – với tất cả hệ lụy trước sau sẽ dẫn tới một bước ngoặt khác…”. 

Trong bài này, từ điểm lại những vấn đề “nóng” hoặc “rất nóng” của kinh tế và hệ thống chính trị đất nước, tôi đã nói lên nỗi lo của mình về những nguy cơ mới rất nghiêm trọng. Thực ra đất nước lúc ấy đã chớm bước vào một cuộc khủng hoảng lớn, bắt đầu từ khu vực tài chính tiền tệ.

Thật đau buồn, sau 2007 là những năm tháng đất nước rơi sâu vào một cuộc khủng hoảng lớn kéo dài, trên mọi phương diện kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh… mà nguyên nhân gốc là sự tha hóa và bất cập của hệ thống chính trị quốc gia đã ngăn cản hoàn toàn việc chuyển đất nước đi vào một thời kỳ phát triển mới, giữa lúc đất nước đã hoàn tất toàn bộ quá trình hội nhập quốc tế và đứng trước vận hội mới. Cuộc khủng hoảng này ở nước ta lại bị cuộc khủng hoảng của kinh tế thế giới nổ ra sau đó khoảng một năm làm cho quyết liệt thêm.

Không thể xem cuộc khủng hoảng này của nước ta chỉ là lỗi đơn thuần của những cá nhân, mà trước hết đấy là lỗi của hệ thống, khiến cho luật pháp, các chính sách và kỉ cương của đất nước mất hiệu lực trầm trọng, khiến cho cái giả dối và tham nhũng lên ngôi và ra sức lũng đoạn sự phát triển của đất nước. Trong khi đó những khó khăn mang tính lỗi hệ thống trong bộ máy chính trị và những lỗi về đường lối và cấu trúc kinh tế ngày càng trầm trọng. Toàn bộ thực trạng này làm cho các hiện tượng tha hóa và tham nhũng trở thành những tệ nạn mang tính xã hội hầu như bất khả kháng, vì những hiện tượng này gắn với bản chất chế độ chính trị.

Có thể nói đây là thời kỳ tính tiền phong chiến đấu và phẩm chất chính trị của Đảng thấp nhất trong 40 năm độc lập thống nhất đầu tiên của đất nước: Học tập chính trị nhiều nhất, có nhiều nhất các biện pháp chỉnh đốn và xây dựng đảng, song đây lại là thời kỳ đảng có nhiều nhất các đảng viên, nhất là số đảng viên cao cấp, sa ngã và phạm các trọng tội; Đảng có quá nhiều bất cập nhất trước những vấn đề hệ trọng của quốc gia trong mọi lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội và an ninh quốc phòng… 

Đơn giản vì những biện pháp chữa cháy đã thực hiện này không hề đụng chạm đến những nguyên nhân cơ bản của đường lối và của hệ thống chính trị. Đây cũng là thời kỳ nội bộ đảng mất dân chủ trầm trọng nhất, tất yếu làm cho phẩm chất chính trị, kỷ cương và kỷ luật của đảng tê liệt. 

Tình hình đến nỗi một trong những biểu hiện nhức nhối lòng dân không kém những hiện tượng tiêu cực khác là từ những người có chức vụ cao lúc này lúc khác xuất hiện những ngôn ngữ, những câu nói hay cách nói thiếu tôn nghiêm không thể được phép tồn tại trong một đảng chính trị độc nhất lãnh đạo một quốc gia 90 triệu dân. Sự thiếu tôn nghiêm ấy nói lên nhiều điều đau lòng về các giá trị và kỷ cương của đất nước, về sự tôn trọng nhân dân.

Hệ quả chung là kể từ sau 30-04-1975, đất nước trong những năm sau 2007 rơi vào thời kỳ suy yếu và đang bị uy hiếp nghiêm trọng nhất, Đảng cũng lâm vào tình trạng sa sút nhất. Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng không dưới một lần thừa nhận tham nhũng và tha hóa đã trở thành nguy cơ đe dọa sự tồn vong của chế độ, lòng tin của nhân dân vào Đảng giảm sút. Con đường phát triển của đất nước bế tắc, Tổng bí thư thừa nhận đến hết thế kỷ này không biết đã có chủ nghĩa xã hội hoàn thiện ở Việt Nam hay không. Có bộ trưởng, thứ trưởng nói thẳng thắn làm gì có định hướng xã hội chủ nghĩa mà tìm, đi mà không rõ đi đâu, bằng cách nào, thì bao giờ đến…

Tất cả nói lên Đảng chỉ còn lại là một lực lượng chính trị mạnh nhất cai trị quốc gia bằng quyền lực.

Để cho đất nước và Đảng lâm vào tình trạng nói trên không một đảng viên nào vô can (kể cả tôi). Tôi đã trình bày như thế trong Đảng và với cả nước nhiều lần năm này qua năm khác, bằng những phát biểu, các bài viết, và cả bằng các thư của mình gửi lãnh đạo…, đặt ra đòi hỏi quyết liệt phải đổi mới Đảng và cứu nguy đất nước.
Thú thực, tuy đã bước sang 2015 rồi, song những trăn trở lo âu trong tôi của những năm tháng sau cái ngã ba 2007 vẫn còn nhức nhối trong lòng. 

Chưa kịp hoàn hồn về những nỗi lo nào là nguy cơ sụp đổ của hệ thống tài chính tiền tệ quốc gia với các hiện tượng đô-la hóa, vàng hóa, nào là hàng loạt xí nghiệp nhỏ và vừa phá sản, nào là nông dân vật vã khốn khổ với “cái xiềng 3 sào” truyền kiếp và thiên tai…, lại đến những ngao ngán về tệ nạn tham nhũng – nhất là tham nhũng tiêu cực về đất đai có nơi trắng trợn đến mức nhân dân gọi là “cướp ngày” và có nơi súng đã nổ, về những tệ nạn “học giả”, bằng giả…, về chạy chức chạy quyền và chạy tội… Và nhất là về thực trạng sự dối trá hầu như ngày càng nắm vai trò ngự trị đất nước. Giữa lúc cả nước đã có hơn 30 triệu người sử dụng internet mà đất nước vẫn bị bưng bít đủ điều…

Sống trong “4 tốt và 16 chữ” mà đất nước những năm tháng sau cái ngã ba 2007 hầu như không lúc nào hết những chuyện căng thẳng gần như đứt dây đàn, không trên biển thì trên bộ, không trong chính trị thì lại trong kinh tế, bây giờ đang lây lan sang cả lĩnh vực văn hóa nữa. Rồi đến 60 ngày chiến tranh có thể nổ tung với cái giàn khoan HD 981, gắn với hiện tượng gần 800 xí nghiệp từ Bắc vào Nam bị đồng loạt cướp phá trong hai ngày 13 và 14-05-2014, do quyền lực mềm kích hoạt… 

Cay đắng hơn nữa, vì phải chăm lo giữ “đại cục” với một hệ thống chính trị trong hiện trạng đất nước lâm vào khủng hoảng toàn diện, nên hầu như bộ máy chính quyền của đất nước trong những năm tháng này chỉ có duy nhất quyết sách trấn áp các phản ứng của nhân dân đối với những bước lấn tới của chính sách bá quyền Trung Quốc trên Biển Đông, đến mức tướng Nguyễn Trọng Vĩnh phải lên tiếng: Đừng biến nước ta thành nhà nước cảnh sát!

Tháng này qua tháng khác, năm này qua năm khác sau cái ngã ba 2007, nhân dân khắc khoải hỏi nhau, các học giả kinh tế đau đầu hỏi nhau khủng hoảng của đất nước đã tới đáy chưa? Đã đi ngang chưa?...

Rồi đến những con số, những hiện tượng của năm 2014, đúng ra là của 18 tháng gần đây, lóe lên niềm hy vọng về tình hình đất nước, dù vẫn còn là rất yếu ớt. Khai mạc hội nghị Trung ương 10 khóa XI Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng nhận định về năm 2014: “…Nền kinh tế nước ta đã có những chuyển biến tích cực hơn, kinh tế vĩ mô cơ bản ổn định, lạm phát được kiểm soát, kinh tế tăng trưởng cao hơn năm 2013; an sinh xã hội và phúc lợi xã hội được bảo đảm; cơ bản hoàn thành các mục tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội đã đề ra. Xử lý đúng đắn, kịp thời những diễn biến mới, phức tạp liên quan tới Biển Đông và quan hệ Việt Nam – 

Trung Quốc…”
Nhìn sâu thêm một chút vào những việc đã làm được, nổi lên hai nguyên nhân cơ bản. Đó là sự nỗ lực vô bờ bến tự cứu mình và cứu nước của nhân dân, một số thay đổi quyết liệt đã thực hiện được trong hệ điều hành kinh tế liên quan đến thể chế. Có thể nêu lên nhiều ví dụ liên quan đến hai phương diện này.

Viết đến đây, nếu có quyền, tôi sẽ phong cho nông dân ta và rất nhiều doanh nghiệp nhỏ và vừa danh hiệu anh hùng thời đất nước chìm nổi trong những khó khăn của khủng hoảng.

Giữa lúc kinh tế đất nước nguy khốn nhất, nông nghiệp với những gì đã làm được thực sự là bệ đỡ cho cả nền kinh tế. Với cả nghĩa đen là không đói thì cả nước còn sống và làm việc tiếp được. Với cả nghĩa rộng là những thành tựu nông nghiệp thời gian này đã góp phần quan trọng vào việc ổn định tình hình kinh tế, chính trị và xã hội của đất nước. 

Xin thử hình dung tình hình sẽ ra sao nếu đói kém xảy ra và hàng chục triệu nông dân không tự cứu được mình và cứu đất nước? Những công nhân, những người lao động trong hàng trăm nghìn xí nghiệp nhỏ và vừa phá sản thời gian này đi về đâu nếu không có nơi nương náu là quê hương nông nghiệp của họ?

Tôi xót xa bao nhiêu về các doanh nghiệp nhỏ và vừa bị phá sản thời gian này, thì cũng bái phục bấy nhiêu về những nỗ lực tạo dựng lại những doanh nghiệp mới, cố tìm ra sản phẩm mới. Bạn hãy thử đặt mình vào địa vị chủ một doanh nghiệp phá sản phải tìm đường dựng ra một doanh nghiệp mới, hoặc là nhà kinh doanh lần đầu tiên đứng ra lập một xí nghiệp mới giữa lúc hàng chục nghìn xí nghiệp khác chết hàng loạt, bạn sẽ hiểu ra được nhiều điều… 

Tất cả những người chủ này đều thuộc khu vực dân doanh, chịu đựng đầy đủ mọi chèn ép của khu vực quốc doanh, của các con cá lớn thuộc các thành phần kinh tế khác – kể cả FDI, và được thăm hỏi tới số của toàn bộ hệ thống chính quyền của chế độ chính trị này. Chính khu vực dân doanh này đang tạo ra nhiều công ăn việc làm nhất và đóng góp tỷ trọng quan trọng vào GDP cả nước, song cũng được hưởng ít nhất ân huệ từ bàn tay bà đỡ của nhà nước do mình đóng thuế nuôi.

Sự chấn chỉnh bước đầu của hệ thống tài chính tiền tệ đã góp phần quan trọng vào tia hy vọng lóe lên đang được nói tới ở đây. Việc cơ cấu lại khu vực quốc doanh đang được tiến hành với hai mục tiêu chính là (a) đẩy mạnh xã hội hóa (trên thực tế là thực hiện tư nhân hóa thông qua hình thức cổ phần hóa) và (b) cố gắng thực hiện sự bình đẳng giữa các thành phần kinh tế theo tinh thần cái gì khu vực kinh tế tư nhân làm được thì khu vực nhà nước không làm. Việc đẩy mạnh mọi nỗ lực khuyến khích khu vực kinh tư nhân phát triển sản xuất kinh doanh mọi lĩnh vực luật pháp không cấm đã bắt đầu kích thích cạnh tranh lành mạnh và tăng thêm tính năng động cho nền kinh tế. Vân vân…

Tất cả những kết quả đạt được này dù còn khiêm tốn như thế nào, đều là những nổ lực liên quan đến đổi mới thể chế, tự nó đặt ra đòi hỏi mới rất gay gắt phải đổi mới thể chế… Thắng lợi vừa qua trong đấu tranh với sự có mặt phi pháp của giàn khoan HD 981 cắm sâu trong vùng biển nước ta càng đặt ra đòi hỏi phải mau chóng tiến hành cải cách thể chế chính trị để Việt Nam sớm trở thành một đất nước giàu mạnh, của tự do và nhân phẩm, vừa có thế và vừa có lực bảo vệ vững chãi độc lập chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ quốc gia, thiết lập được quan hệ hữu nghị láng giềng tốt đúng nghĩa với Trung Quốc, dấn thân cho hòa bình, hợp tác và cùng phát triển trong khu vực và trên thế giới…

Tia hy vọng lóe lên được nói tới ở đây dù còn khiêm tốn như thế nào, hiển nhiên đang gợi ý nhiều điều, đang đặt ra nhiều câu hỏi lớn, nhìn về bất kỳ phương diện nào của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước.
*
Trước hết, phải chăng toàn bộ những kết quả làm nên tia hy vọng tuy mới chỉ le lói và còn yếu ớt, nhưng đã nói lên rất rõ: Tất cả những việc đã làm được của 18 tháng vừa qua đều có một cái tên chung là công việc phục hồi? Thậm chí sự hồi phục hiện nay đạt được còn rất mong manh, của một nền kinh tế có cấu trúc và hệ điều hành đã làm xong vai trò giai đoạn phát triển ban đầu – dù là đã kéo dài một cách quá đáng: giai đọan phát triển theo chiều rộng. Làm xong vai trò cần được hiểu là cái đã làm được bây giờ trở nên lỗi thời, không có lý do tiếp tục tồn tại, mặc dù giai đoạn phát triển này là căn bản cho các bước phát triển tiếp theo của đất nước. Đơn giản là đất nước không thể phát triển tiếp bằng cách nâng lên gấp đôi, gấp ba sản xuất lúa gạo, vì thị trường thế giới đã bão hòa, khả năng sản xuất lúa gạo của ta đã tới cái ngưỡng của tự nhiên và của con người không thể vượt qua. Cây cao su cũng thế.

 Cây cà phê cũng thế. Nhiều sản phẩm hiện có của nền kinh tế trong lĩnh vực công nghiệp, lĩnh vực dịch vụ cũng thế… Hiển nhiên đất nước đòi hỏi phải làm ra được những sản phẩm mới. Nói khái quát là kinh tế phải mở ra được một giai đoạn phát triển mới của nhiều hàm lượng trí tuệ sáng tạo và khoa học công nghệ, của phương thức và quy mô kinh doanh/cạnh tranh hoàn toàn khác trước. 

Có phải như vậy không? Bằng thể chế chính trị hiện hành có làm được không? Trong khi đó tất cả những cái “nóng”, những cái “rất nóng” tồn tại trong đời sống mọi mặt của đất nước đã được nêu trong bài “Ngã ba 2007” hầu như hiện nay vẫn còn nguyên vẹn.
Hơn thế nữa, giai đoạn phát triển mới này của đất nước đứng trước vấn đề nan giải là không thể hoàn thành sự nghiệp công nghiệp hóa vào năm 2020. Thêm vào đó là tư duy về công nghiệp hóa của nước ta – cụ thể ở đây là đường lối phát triển đất nước của Đảng, sẽ chỉ có khả năng dẫn dắt đất nước đi tới cái bẫy của nước đang phát triển có mức thu nhập trung bình (thấp), như nhiều báo cáo nghiên cứu khoa học đã chỉ ra. Cũng những báo cáo này chứng minh một thể chế chính trị lạc hậu không có khả năng tạo ra và điều hành được một nước công nghiệp. Vậy làm thế nào bây giờ? Các khái niệm về nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ… ngày nay phải thay đổi sâu sắc, phải suy nghĩ khác. Ngay sát nước ta Thái Lan là một ví dụ điển hình cho những bất cập này để suy ngẫm.

Nước ta chỉ có một đảng duy nhất nắm giữ vai trò lãnh đạo, song hệ thống chính trị của đất nước lại là 3 trong 1 (Đảng, nhà nước, mặt trận), phục vụ tuyệt đối quyền lực của Đảng. Dẫn tới nước ta có một hệ thống chính trị và chính quyền nhào trộn vào nhau với biết bao nhiêu vùng chồng lấn nhau, và những khoảng trống quyền lực không lường hết được. Đội ngũ biên chế của toàn bộ hệ thống này tính tỷ lệ theo cơ số 1 biên chế trên 100.000 dân của nước ta thường đông gấp 5 – 6 lần so với nhiều nước trên thế giới – kể cả so với Mỹ và những nước phát triển khác, ngân sách còm cõi của một nước còn nghèo sao gánh chịu nổi? 

Hiện tượng này vô cùng lý tưởng cho quan liêu, tham nhũng và tiêu cực hoành hành. Hệ thống chính trị này đẻ ra một nền kinh tế của bóc ngắn cắn dài, của cải đổ ra cho kinh tế rất nhiều, sử dụng tài nguyên và môi trường đến mức cạn kiệt, nhưng đất nước phát triển còn thấp mà đã nợ nần rất cao, với sự phân phối được thực hiện dưới tác động nghiêm trọng của sự giành giật hay chia chác giữa các nhóm lợi ích có thế lực. Nhiều quyền của dân đã ghi trong hiến pháp bị xâm phạm. Có thể trở thành một nước công nghiệp, văn minh, hiện đại với một hệ thống chính trị và bộ máy chính quyền như thế? Thay đổi hiện trạng này như thế nào?…

Đặc thù của giai đoạn mới bắt buộc phải đưa con người vào vị trí trung tâm của sự nghiệp phát triển. Không biết bao nhiêu nghị quyết và văn kiện của Đảng cũng đặt con người vào vị trí như vậy, tại sao 40 năm thực hiện trong thể chế chính trị của quốc gia độc lập mà những điều đã nói đúng, đã viết đúng ra được này không làm sao thực hiện được? Nhìn vào nền giáo dục hiện có của nước nhà, câu hỏi này càng nhức nhối. Tại sao như vậy? Làm gì và làm thế nào bây giờ? Có thể có được một đất nước phát triển, tự do, dân chủ và hạnh phúc bằng chính sách ngu dân và những con người không có tự do?

Thế rồi lại có ý kiến phê phán, đều là hai nước xã hội chủ nghĩa anh em, ăn đời ở kiếp với nhau, sao lại dám nói quan hệ Việt – Trung là 6 chữ “vừa hợp tác, vừa đấu tranh”? Nói thế có sái không? Vậy thay bằng chữ nghĩa nào bây giờ? Chẳng lẽ thay bằng “giữ đại cục, thôi đấu tranh”? Hay là cứ đành giữ nguyên xi “4 tốt và 16 chữ” như một phần tư thế kỷ vừa qua – vì không thể đào đất đổ đi được? Những câu hỏi này còn đời đời kiếp kiếp giằn vặt đất nước và dân tộc ta. Chữ nghĩa nào thì đối sách ấy và thân phận ấy, chọn cái gì bây giờ? Chọn bằng cách nào? 

Cứ trống đánh xuôi kèn thổi ngược thì làm sao thoát được bị Trung Quốc bắt làm tù binh? Một Trung Hoa nước giàu quân mạnh, phải đánh thắng mọi cuộc chiến tranh cục bộ, vì giấc mộng Trung Hoa, đột phá khẩu đầu tiên là Biển Đông với tính chất là địa bàn thuộc về lợi ích cốt lõi của Trung Quốc (Tập Cận Bình) đang đặt ra cho nước ta những vấn đề sống còn nào? 

Một Việt Nam như hiện nay sát nách một Trung Quốc như hiện nay liệu sẽ được yên thân nếu cam chịu một bề xin hòa hiếu và mọi việc răm rắp theo Trung Quốc? Hỏi thế thì cũng phải hỏi ngay liệu dân tộc Việt Nam sẽ chấp nhận phương án này và người lựa chọn nó? Giữ “đại cục” thì cứ để đảng và nhà nước lo liệu tất cả, nhân dân chỉ cần nhất quán làm theo, sơn hà xã tắc sẽ được nguyên vẹn? Rồi mọi mâu thuẫn gia đình cũng sẽ êm dịu?

Vân vân… và vân vân… Còn nhiều câu hỏi rất nghiêm trọng phải đặt ra lắm.
*
Nhìn lại đất nước 40 năm qua, nhìn lại cuộc khủng hoảng nước ta rơi vào từ cái ngã ba 2007, nhìn vào những tín hiệu hy vọng le lói 18 tháng qua được nói tới ở đây, tôi thấy có không biết bao nhiêu gợi ý do cuộc sống nêu lên cần quan tâm, có biết bao nhiêu câu hỏi mới chờ đợi cả nước câu trả lời. Rồi lại nghĩ đến những việc đất nước ta phải lựa chọn, phải thực hiện cho năm 2015, cho những năm tiếp theo… Tất cả lại một lần nữa dồn cục vào cái ý nghĩ, cái câu hỏi đeo đẳng tôi hàng chục năm trời không buông tha, chí ít là từ cái ngày có bức thư 08-09-1995 của cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt gởi Bộ Chính trị.

Bước vào năm 2015, trước thềm Đại hội XII, hôm nay câu hỏi ấy lại vang lên trong tôi:

Nếu Đảng thực tâm muốn giữ vai trò lãnh đạo đất nước với tư cách là đảng cầm quyền của một nước Việt Nam độc lập bây giờ là với 90 triệu dân, Đảng có dám bắt đầu từ việc nhìn nhận lại chính mình và tất cả, để viết lại cương lĩnh và huy động trí tuệ của cả cộng đồng dân tộc Việt Nam ta với tư cách là người chủ đất nước viết lại hiến pháp hay không?

Tôi xin tự đặt ra câu hỏi như vậy với toàn Đảng và chia sẻ câu hỏi này với cả nước.

Những gì tôi thấy được đang diễn ra ở Lybie là sau cách mạng mùa xuân Ả – Rập tình trạng rối loạn hiện đưa đất nước đến bên bờ nội chiến, ở Ukraina là mất Crimea và miền Đông đang đòi ly khai bằng đối đầu quân sự có Nga hậu thuẫn, và ở Myanmar là đang gian khổ theo đuổi con đường cải cách hòa bình từ trên xuống và từ trong hệ thống quyền lực ra và đã đi được một số bước đầu tiên đầy khích lệ, dù rằng toàn bộ con đường gian truân vẫn đang ở phía trước… Tất cả những hiện tượng này càng thôi thúc tôi nêu ra câu hỏi trên với toàn Đảng và chia sẻ với cả nước. 

Mặc dù tôi biết đến nay tất cả các đảng cộng sản cầm quyền ở các nước Liên Xô – Đông Âu cũ đều tự sụp đổ hoặc bị đánh đổ (như ở Rumanie), chưa có một đảng nào tự nguyện cải cách hòa bình. Song chưa có, không có nghĩa là nhất thiết hay vĩnh viễn không thể có, ngoại trừ quyền lực dứt khoát cự tuyệt với cải cách. Vả lại dù đất nước sẽ phải trải qua con đường nào, cải cách để phát triển là con đường tất yếu nước ta trước sau phải kinh qua không thể ăn bớt.

Từ 2015, nước ta bắt đầu đi vào thực hiện 6 hiệp định thương mại tự do (FTA) với các đối tác chiến lược, trong đó có FTA với cộng đồng Châu Âu (EU), Nhật, Hàn Quốc, Khối thương mại tự do EFTA (bao gồm Thụy Sỹ, Na Uy, Iceland, Liechtenstein), Liên minh Hải quan (Nga, Belarus và Kazakhstan)… Việt Nam đang đẩy mạnh đàm phán với Mỹ tham gia Hiệp định thương mại xuyên Thái Bình Dương (TTP), cùng với ASEAN đàm phán FTA với 6 nước trong vùng – trong đó có Trung Quốc – đã được khởi động ở Brunei… 

Cũng từ 2015 Việt Nam là thành viên chính thức của Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC)… Phải nói đấy là những cam kết và vận hội để Việt Nam mang hết ý chí và nghị lực đưa quốc gia mình vào một thời kỳ phát triển mới, phải lấy các chuẩn mực quốc tế làm tiêu chí cho sự vận động và phát triển của quốc gia mình. Thực tế này đang thu hút mạnh mẽ FDI từ cả thế giới vào VN và cũng khai thông con đường cho Việt Nam tiến sâu hơn nữa vào mọi thị trường quan trọng nhất trên thế giới. 

Liệu cam kết và vận hội này sẽ được tận dụng cho khát vọng đổi đời đất nước? Hay là sẽ lại bị vứt bỏ như đã từng vứt bỏ con đường phát triển mới lẽ ra phải lựa chọn khi đất nước đứng ở ngã ba 2007 , và rồi lại vứt bỏ tiếp khi tiến hành sửa đổi Hiến pháp năm 2013? Tận dụng cam kết và vận hội này bằng thể chế chính trị hiện tại? Hay là rồi càng nhiều FDI, đất nước sẽ là cái bãi thải công nghiệp ngày càng lớn cho người khác, càng là đất nước cho thuê, nhân dân ta càng trở thành những người đi làm thuê… như đã diễn ra từ hàng chục năm nay?

Vân vân…

Vâng, cả nước và toàn Đảng đang đứng trước những câu trả lời quan trọng và nghiêm trọng ở mức “to be or not to be?” phải có cho 2015 và những năm tiếp theo.
Hà Nội, 07-01-2015
N.T.
Tác giả gửi BVN

[1] Nguyễn Trung – “Ngã ba 2007”, http://www.viet-studies.info/NguyenTrung/NguyenTrung_NgaBa2007.htm, viết vào cuối năm 2007.

__._,_.___

Posted by: Dien bien hoa binh

Thursday, July 3, 2014

Bằng tiến sĩ VN: Hàng mã


                       Bằng tiến sĩ VN: Hàng mã


Ngày 6 Tháng Ba năm 2014, tờ vietnamnet đăng bài “24.000 tiến sĩ Việt Nam đang làm gì?” cho biết, theo số liệu thống kê mới nhất của Bộ Giáo Dục và Ðào Tạo (GD&ÐT), tính đến năm 2013 có 633 tiến sĩ là giảng viên các trường cao đẳng, 8.519 tiến sĩ là giảng viên các trường đại học” rồi đặt câu hỏi “Vậy còn 15.000 tiến sĩ đang làm việc ở những đâu?”

Bằng tiến sĩ ở Việt Nam là cả một câu chuyện khôi hài và khá dài dòng.

Cho đến thập niên 90, do chất lượng và trình độ chuyên môn kém của các trường đại học Việt Nam nên tiến sĩ của miền Bắc Việt Nam được công nhận ở nước ngoài qua đường nghiên cứu sinh, chủ yếu ở các nước trong phe xã hội chủ nghĩa.
Ði nghiên cứu sinh là một việc ưu đãi, phải có lý lịch tốt, là cán bộ của các viện hay giảng viên trường đại học, nhưng nhiều khi cũng phải lo lót chạy chọt. Ra tới nước ngoài rồi thì đa số dành thời gian cho học và nghiên cứu thì ít, mà cho đi buôn thì nhiều. Không hiếm nghiên cứu sinh đến thời gian nộp luận án (thông thường sau 3 năm, trừ thời gian học tiếng) phải nhờ các sinh viên năm cuối viết giúp, học thuộc lòng và chạy tới giáo sư cố vấn (promotor) để tìm sự hỗ trợ. Khi bảo vệ luận án thì lúng túng, thiếu tự tin, nhưng rốt cuộc cũng đạt điểm trung bình nhờ sự đồng cảm và “hữu nghị”.

Tôi là người đã chứng kiến những cuộc bảo vệ như thế ở Ba Lan, nên đây là sự thật. Chính vì thế mà Giáo Sư Nguyễn Văn Hiệu, cựu viện trưởng Viện Khoa Học Việt Nam, nói một câu nổi tiếng “cứ dắt một con bò sang Nga thì trở về là có một phó tiến sĩ”.

Ông Nguyễn Văn Hiệu là một trong số những nghiên cứu sinh hiếm hoi, có nhiều công trình khoa học ở Viện Nghiên Cứu Nguyên Tử Dupna, được Liên Xô (cũ) phong hàm giáo sư khi mới 30 tuổi. Nhưng khi ông về nước, được cơ cấu vào Ban Chấp Hành Trung Ương Ðảng, thực hiện đúng đường lối tận dụng trí thức của đảng. Lo việc đảng, lãng quên chuyên môn, quá trình nghiên cứu bằng không, rốt cuộc ông cũng trở thành một “con bò”.
Ðùng một cái vào đầu thế kỷ 21, Việt Nam bỏ luôn chữ “phó”, tất cả phó tiến sĩ ngủ dậy sau một đêm bỗng dưng trở thành tiến sĩ. 

Ðồng thời, các trường đại học Việt Nam cũng làm luôn việc nghiên cứu sinh và tự cấp bằng tiến sĩ, đồng loạt, như một phong trào. Trường Nguyễn Ái Quốc, cái nôi đào tạo cán bộ chính trị cho đảng cộng sản Việt Nam (ÐCSVN), nơi giảng dạy chủ nghĩa Mác-Lenin đã bị vứt vào sọt rác lịch sử, cũng cấp bằng tiến sĩ. Văn bằng tiến sĩ từ đây được sản xuất nhanh chóng, đâu đâu cũng thấy, trở thành một đề tài cho công chúng đàm tiếu, khinh thường, chẳng có một chút giá trị nào trên học đường quốc tế.
Có bao nhiêu, hay tất cả(?) đều là những ông tiến sĩ giấy trong hình trên ?

Cần phải lưu ý rằng, học vị tiến sĩ là văn bằng cao nhất trong hệ thống đại học phương Tây, do đó hệ thống đào tạo tiến sĩ của họ được thiết lập rất chặt chẽ và nghiêm chỉnh.
Chương trình đào tạo tiến sĩ là để cung cấp cho xã hội những nhà khoa học chuyên nghiệp và giáo sư đại học tương lai, những người am hiểu chuyên sâu một lĩnh vực nào đó, có khả năng phát hiện, thiết kế thí nghiệm hay nghiên cứu giải quyết vấn đề, có khả năng phân tích và diễn giải kết quả nghiên cứu, có khả năng truyền đạt kết quả nghiên cứu đến đồng nghiệp trong chuyên ngành và công chúng.

Trong khi ở Việt Nam, các vị lãnh đạo các tổng công ty, tập đoàn, doanh nghiệp trên các tấm danh thiếp đều có hai chữ “tiến sĩ”. Chưa có quốc gia nào trên thế giới khi xuất hiện trên báo chí học vị “tiến sĩ” được gắn kèm với các nhà lãnh đạo nhiều như ở Việt Nam.

Việt Nam là quốc gia có số lượng giáo sư, tiến sĩ nhiều nhất Ðông Nam Á nhưng nghiên cứu khoa học lại nằm trong nhóm thấp nhất của khu vực, không có một trường đại học nào của Việt Nam nào được đứng trong bảng xếp hạng 500 trường đại học hàng đầu thế giới. Ông Nguyễn Khắc Hùng, cựu chuyên viên đối ngoại, Học Viện Hành Chính Quốc Gia từng nói số người có bằng tiến sĩ ở Việt Nam cao gấp 5 lần Nhật Bản.

Dốt hay phô trương
.

Mặc cảm dốt nát và thua thiệt về văn hóa, các quan chức phải lấy cái mác “tiến sĩ” gắn vào cho mình, như là một thứ bùa hộ mệnh.
Ngoài sự khoe khoang, háo danh, sĩ diện, bằng cấp cũng là chiếc giấy thông hành trên con đường lọt vào các cơ quan nhà nước và leo lên các bậc thang quyền chức. Cho nên trào lưu “chạy” bằng giả lan tràn, trở thành phổ biến trong xã hội Việt Nam.

Nguyễn Thế Thảo, chủ tịch Hà Nội, học kém, chật vật kiếm được cái bằng kiến trúc sư ở Ba Lan, nhưng khi có chức, có quyền phải kiếm bằng được bằng “tiến sĩ” của trường... Nguyễn Ái Quốc. Kiếm bằng cách nào chỉ có trời biết! Ðây là một trong vô vàn ví dụ, trong chính sách chiến lược lạ lùng của Hà Nội, đến năm 2020, 100% công chức diện thành phố quản lý (cấp chi cục trưởng và chi cục phó) có bằng tiến sĩ!

Nguyễn Ngọc Ân, giám đốc Sở Văn Hóa-Thể Thao và Du Lịch tỉnh Phú Thọ đã có học vị tiến sĩ với đề tài “vấn đề di sản văn hóa với việc phát triển kinh tế du lịch tỉnh Phú Thọ” từ trường đại học Nam Thái Bình Dương của Mỹ. Trong khi đó ông Ân không hề biết tiếng Anh, chỉ có bằng cử nhân tại chức kinh tế-quốc dân khóa 24 (lớp học được tổ chức tại thành phố Việt Trì)!

Nguyễn Văn Ngọc, thời điểm còn là Phó bí thư tỉnh ủy Yên Bái, chỉ trong vòng 6 tháng đã “dùi mài kinh sử” với 17 ngàn USD, cũng trở thành “tiến sĩ” của đại học Nam Thái Bình Dương. Trong khi đó, trường đại học Online này không được thừa nhận về tiêu chuẩn (unaccredited), bị báo chí phanh phui từ nhiều năm qua.

Dương Chí Dũng, cựu chủ tịch Hội Ðồng Quản Trị Vinalines, người vừa nhận án tử hình vì tội tham nhũng, đi xuất khẩu lao động ở Cộng Hòa Dân Chủ Ðức, về Việt Nam và làm cán bộ bình thường, đi học lớp tại chức tại đại học hàng hải, rất nhanh sau đó lấy bằng thạc sĩ, rồi tiến sĩ kinh tế. Tiến sĩ kinh tế này đã làm Vinalines nợ nần, thất thoát hàng tỷ đô la.

Vũ Viết Ngoạn, chủ tịch Ủy Ban Giám Sát Tài Chính Quốc Gia, sử dụng bằng “tiến sĩ” tài chính qua chương trình đào tạo từ xa của La Salle (khác với đại học La Salle tại Pennsylvania), cũng là một trường “rởm” ở Mỹ.

Ông Phạm Minh Hạc, giáo sư của Bộ GD&ÐT đã từng nói trong bài “Cán bộ xài bằng giả để kiếm cái ghế”:

“Tôi còn nhớ năm 2001, Bộ GD&ÐT phát động phong trào thanh tra bằng giả, đưa nó thành chủ trương của ngành. Ðến năm 2005,
sau 4 năm, đã phát hiện được 10 ngàn bằng giả. Số bằng giả này chủ yếu tập trung ở công chức nhà nước trong đó có cả cán bộ cấp cơ quan trung ương”.

Trong bài “Bằng giả: Sờ đâu dính đó!”, ngày 06 Tháng Mười, 2012, tờ Người Lao Ðộng viết:
“Năm 2003, Ban Chỉ Ðạo Kiểm Tra Văn Bằng, Chứng Chỉ tỉnh Cà Mau phát hiện tỉnh này có trên 600 trường hợp cán bộ sử dụng bằng cấp có vấn đề. Trong đó, nhiều cán bộ đảm nhiệm những chức vụ quan trọng đã bị xử lý kỷ luật. Tuy nhiên, đa số những người này vẫn cứ thăng quan tiến chức.”

Tại phiên họp ngày 25 Tháng Hai năm 2014 của Hội Ðồng Quốc Gia Về Giáo Dục và Phát Triển Nhân Lực giai đoạn 2011-2015, Bộ Trưởng Bộ GD&ÐT Phạm Vũ Luận nói “
thực tế những người có bằng giả hay bằng thật, nhưng chất lượng giả chỉ có thể ‘chui’ vào hệ thống công chức nhà nước, chứ không thể vào được các doanh nghiệp tư nhân”.

Ðương nhiên, các công ty tư nhân là những doanh nghiệp lời ăn, lỗ chịu, họ phải thận trọng kỹ càng trong việc tuyển dụng, mà đối với họ, không quá coi trọng bằng cấp, chủ yếu là năng lực chuyên môn, tay nghề.

Cho nên, nếu quay lại câu hỏi “15.000 tiến sĩ đang làm việc ở những đâu?”, quá dễ dàng để thấy rằng, những tiến sĩ hữu danh, vô thực đang nằm trong bộ máy cầm quyền, ăn tục nói phét, sáng cắp ô đi, tối cắp về. Lực lượng “trí thức” rởm này là biểu tượng của lối sống tự sướng, kiêu ngạo, giả dối, lưu manh của cả hệ thống.

Con đường xã hội chủ nghĩa mà “đến hết thế kỷ này chưa chắc đã thấy” (lời của Tổng Bí Thư ÐCSVN Nguyễn Phú Trọng) được hô hào bằng những mỹ từ trên các băng rôn, áp phích đỏ chót, giăng khắp nơi để lừa bịp xã hội, lấp liếm sự ảo tưởng và giả tạo, y chang những cái bằng tiến sĩ vô giá trị, một thứ hàng mã không hơn không kém/
Lê Diễn Đức
quehuongngaymai.com


Tuesday, April 1, 2014

Chuyên cuòi bê bung xhch gûi Làng xem de cùng... ói!


Chuyên cuòi bê bung xhch gûi Làng xem de cùng... ói!

From: Kim M <>
Subject: " Hàng triệu kiều bào có nguy cơ mất quốc tịch"
Sent: Sun, Mar 30, 2014 5:27:39 PM


THƯ GIÃN: SÁNG NAY XÉM CHÚT BỂ BỤNG CHẾT VÌ CƯỜI!

(*) Cảnh báo: đọc xong CƯỜI bể bụng, Thùy Trang không chịu trách nhiệm

Sáng thức dậy, đọc được nguồn tin từ báo Tiền Phong, cười lộn ruột, té ghế mấy lần. Bụng bây giờ còn đau quặn. ...

Đọc hoài mà vẫn cười nứt nẻ : " Hàng triệu kiều bào có nguy cơ mất quốc tịch"

TP - Hàng triệu kiều bào có nguy cơ mất quốc tịch Việt Nam nếu đến ngày 1/7/2014 không đăng ký giữ quốc tịch theo quy định ở Khoản 2 Điều 13 Luật Quốc tịch Việt Nam năm 2008 và Nghị định hướng dẫn số 78/2009/NĐ-CP.

Theo thống kê của Cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài, đến ngày 31/12/2013, mới chỉ có hơn 6.000 người (.13%) làm thủ tục đăng ký, trong khi đang có 4,5 triệu người Việt Nam ở nước ngoài.

Chỉ là đăng ký

Ở những nước có đông kiều bào Việt Nam sinh sống như Hoa Kỳ, Australia, tỷ lệ đăng ký rất thấp.

Luật quốc tịch Việt Nam năm 2008 đã nới rộng cho người Việt ở nước ngoài được giữ quốc tịch Việt Nam nếu họ chưa thôi hoặc không bị tước quốc tịch Việt Nam. Đây là một tin vui, đáp ứng lòng mong mỏi của nhiều kiều bào sau nhiều lần đề đạt nguyên vọng của mình tại các cuộc gặp gỡ với lãnh đạo của Đảng và Nhà nước. Tuy nhiên, 5 năm kể từ ngày Luật có hiệu lực, số người đăng ký xin giữ quốc tịch quá khiêm tốn.

Việc ít người đăng ký chủ yếu do Giấy xác nhận đăng ký quốc tịch Việt Nam không có giá trị chứng minh quốc tịch Việt Nam, cũng không phải là cơ sở để cấp phát các giấy tờ khác như hộ chiếu, giấy thông hành, giấy miễn thị thực, chỉ có giá trị “giữ chỗ” để người Việt Nam định cư ở nước ngoài không mất quốc tịch Việt Nam sau ngày 1/7/2014.

Bên cạnh đó, một số người chưa đăng ký do ngại ảnh hưởng đến việc làm, giấy tờ cư trú, do sự tuyên truyên chống phá của một bộ phận người Việt cực đoan. Nhiều người cho rằng, các quy định trên không có tính khả thi cao và phải gia hạn để bà con có thêm thời gian đăng ký.

Ông Tạ Nguyên Ngọc, Vụ trưởng Vụ nghiên cứu tổng hợp, Ủy ban Nhà nước về người Việt Nam ở nước ngoài, Bộ Ngoại giao cho biết, khi Luật Quốc tịch năm 2008 được ban hành, bà con rất phấn khởi, nhưng rồi họ thấy rằng đăng ký chỉ là đăng ký, không đồng thời với việc có quốc tịch Việt Nam và được cấp hộ chiếu Việt Nam, trong khi do điều kiện sinh sống, bà con lại cần giấy tờ của nước sở tại.

Nên bỏ thời hạn đăng ký?

Những vướng mắc trên đã được nhiều cá nhân và nhiều lãnh đạo, tổ chức kiều bào phản ánh từ rất sớm tại các Hội nghị người Việt ở trong và ngoài nước.

Nhiều ý kiến cho rằng nên hủy bỏ quy định về đăng ký giữ quốc tịch Việt Nam để bà con không bị mặc nhiên mất quốc tịch Việt Nam; thay vào đó có quy định để bà con có đủ giấy tờ thì được cấp ngay chứng nhận có quốc tịch Việt Nam.

Tại nhiều cuộc họp về vấn đề trên, hầu hết các cơ quan liên quan, trong đó có Ủy ban Pháp luật của Quốc hội đều cho rằng: quy định đăng ký giữ quốc tịch và mất quốc tịch Việt Nam (do không đăng ký) là bất cập, không phù hợp thực tế và mục tiêu quản lý, vận động, làm phương hại đến công tác đối ngoại của ta, đi ngược lại chính sách đối với người Việt Nam ở nước ngoài, đề nghị Bộ Tư pháp khẩn trương trình Chính phủ và báo cáo Quốc hội để kịp sửa Luật Quốc tịch ngay tại kỳ họp Quốc hội vào tháng 5/2014.

Trong phiên họp ngày 11/3/2014, Ủy ban Thường vụ Quốc hội cũng đã có ý kiến yêu cầu báo cáo để xem xét sửa đổi Luật quốc tịch trong kỳ họp Quốc hội tháng 5/2014.

Thế nhưng, Bộ Tư pháp vẫn không đồng tình với việc bỏ Khoản 2 điều 13 Luật Quốc tịch. Tại cuộc họp hồi đầu tháng 3 vừa qua, ông Nguyễn Công Khanh, Cục trưởng Cục Hộ tịch, quốc tịch, chứng thực (Bộ Tư pháp) vẫn cho rằng chỉ cần đơn giản hóa hơn nữa thủ tục đăng ký và tích cực vận động công dân Việt Nam tôn vinh quốc tịch Việt Nam.

Từ nay đến tháng 5 đã cận kề, khả năng sửa đổi Luật Quốc tịch 2008 và các Nghị định kèm theo khó thực hiện được ngay và mặc nhiên những người không đăng ký giữ quốc tịch Việt Nam sẽ bị mất Quốc tịch sau ngày 1/7/2014.

Theo Khoản 2 điều 13 Luật Quốc tịch năm 2008 và các văn bản hướng dẫn, người Việt Nam định cư ở nước ngoài không có hộ chiếu Việt Nam còn giá trị và chưa mất quốc tịch Việt Nam trước ngày luật có hiệu lực (1/7/2009) thì phải đăng ký giữ quốc tịch tại các cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài trong thời hạn 5 năm (1/7/2009-1/7/2014).

Trong 5 năm này, họ phải đến đăng ký với cơ quan đại diện Việt Nam ở nước nơi người đó định cư để giữ quốc tịch Việt Nam, nếu không đăng ký thì sẽ mất quốc tịch sau ngày 1/7/2014.

Theo Tiền Phong






 


 
Minhhà

Tuesday, March 18, 2014

Cứu hộ, cứu nạn hay phô diễn sự lạc hậu?

 

Cu h, cu nn hay phô din s lc hu?
Thanh Quang, phóng viên RFA
2014-03-17
Phát minh và sáng kiến ca Tiến Si Giy, Thc Si Dm là đây ri ..... 

thanhquang03172014.mp3 Phần âm thanhTải xuống âm thanh
000_Hkg9595727-305.jpg
Máy bay trc thăng MI-17 thuc không quân Vit Nam do Liên Xô chế to trước đây tr v sân bay Cà Mau sau mt đt tìm kiếm máy bay Malaysia Airlines mt tích, nh chp ngày 13 tháng 03 năm 2014.
AFP PHOTO / DUY KHÔI

Sau khi chiếc Boeing 777-200 mã hiu MH370 ca hãng Hàng không Malaysia biến mt khi trên đường bay t th đô Kuala Lumpur đến Bc Kinh hôm mùng 8 tháng Ba va ri, thì, cho ti gi, tin tc nóng st nhiu kiu cùng các gi thuyết khác nhau tiếp tc dn dp liên quan chuyến bay đnh mnh vi 239 nhân mng này.

S ngoan c không còn gii hn?

Theo blogger Cánh Cò, nếu trong mt quán cà phê cóc nh xíu ven đường t vùng Đt Mũi tn Cà Mau ca quê hương, “nhng chàng trai cht phác tr thành nhng quan sát viên đói tin nơi cái xã cui cùng ca đt nước”, thì tt c quán cà phê Saigòn “tha ma” tin này “mt cách ti nghip”. Nhưng “s tha thi” y li th hin kh năng chuyên môn hn chế ca báo chí cùng s thiếu chuyên nghip ca các cơ quan cu h VN, t Phòng không, Không quân, Hi quân, B binh, Cnh sát bin, Cc Vin thám cho ti c B Giao thông-Vn ti; và, blogger Cánh Cò nhân tin lưu ý, không ai hiu vai trò ca “cái b cu sp, đường hư, tàu chìm liên tiếp này như thế nào”. 

Qua bài “Bt mt bt… máy bay”, blogger Cánh Cò nhn xét:
“Qua s kin máy bay Malaysia, người dân Sài Gòn hc được nhiu bài hc, mà bài hc th nht là cái điu gi là khoa hc k thut ca Vit Nam quá t hi, đến ni khó mà tin ni trong thế k 21 mà b phn tìm kiếm cu h cu nn ca Vit Nam không khác gì vào đu thế k 20 lúc người ta mơ ước h thng đnh v toàn cu qua nhng máy móc hin đi ca không quân và hi quân - hai cơ quan xung yếu nht trong vic bo v quc gia cũng như cu h cu nn.”

Trích dn li Trung tướng Võ Văn Tun, phó Tng Tham mưu trưởng QĐNDVN, kiêm phó Ch tch y ban Quc gia Tìm kiếm Cu nn, khi khng đnh vi báo Soha mt cách “d thương rng phía VN ch có mt cái thuyn cu h thôi thì chúng ta cũng vn quyết tâm tìm kiếm, cu h”, hay “chúng ta (tìm) bng cái tâm ca mình”, blogger Cánh Cò nhn xét:
Khó mà tin ni trong thế k 21 mà b phn tìm kiếm cu h cu nn ca Vit Nam không khác gì vào đu thế k 20.


-Blogger Cánh Cò
“Mt cái thuyn cu h thôi” nói lên mc đ duy ý chí không có đim dng. “Bng cái tâm ca mình” phô din s ngoan c không còn gii hn. 
Mt chiếc thuyn có đi din cho t hào Vit Nam hay không? 
Mc dù đt nước vn còn nghèo nhưng lòng t trng dân tc không cho phép mt cán b cp cao nm trong tay ngun khí tài quan trng chng xâm lăng li “hn di” mt cách d thương như vy. 
Không ai gin ông khi nói lên s thc, người ta ch cười cho cái s so sánh khá … cng sn ca ông… Chiếc máy bay b nn ca Malaysia cn kết qu ca s tìm kiếm và do đó mi cái được gi là “tâm” xem ra không my phù hp vi xã hi chung s tht...”

Tht vy, có l chính vì vic VN giúp tìm chiếc máy bay lâm nn y dù ch “ mt cái thuyn cu h thôi” hay “bng cái tâm ca mình” khiến, theo t Washington Post, “ Malaysia ch trích VN quá hp tp tung ra nhng hình nh v mnh v” (cho là có th t chiếc phi cơ này). 
Vn theo t báo, thì nhng tin tc chưa được kim chng như vy to nên dư lun bt li cho cuc điu tra. 

Đó là chưa k, blogger Cánh Cò lưu ý, mt bà xm đã “ln tiếng” trước ông kính truyn hình quc tế rng bà ta “không tin tưởng chút nào vào kh năng tìm kiếm ca VN”, và “chiếc máy nh (không chuyên) được báo chí c tình ghi nhn trên người các cán b (VN) ngi trên chuyên cơ đã làm công dân mng khp nơi, nht là TQ, dè bu”.

Cui cùng ri, vào sáng 12 tháng Ba va ri, blogger Cánh Cò kết lun, “cuc chơi bt mt bt… máy bay thi hin đi cũng phi kết thúc” do VN “có th t ái, cũng có th hết tin (vì mi ngày tn 1 triu m kim), và cái có th nht là không l c bay vòng vòng hết ngày này sang ngày khác như k mù trên vòm tri bao la ca bin c đ đi ly li chì chiết nhc xương…”.

Cuc trình din không h r?

000_Hkg9599921-250.jpg
Máy bay AN-27 do Nga chế to trong mt chuyến bay tìm kiếm máy bay Malaysia Airlines mt tích, nh chp ngày 14 tháng 3 năm 2014. AFP PHOTO / HOANG DINH NAM.
Qua bài ‘Thy gì trong hat đng cu h máy bay Mã Lai ca VN”, blogger Nguyn Tn Thành đ cp ti tình trng “Biu din là chính, li có c quan chc cp cao là th trưởng b GTVT đi theo không biết đ làm gì”. 

Tác gi nhn xét rng s tham gia cu cu h này ca VN qu là cơ hi đ Hi quân, không quân, Cnh sát bin VN “th hin năng lc vi các nước” khi VN “tha kinh nghim v s cn trng các ngun tin quân s cũng như vic cung cp thông tin cho báo chí”. 

Nhưng, tác gi lưu ý, “nhìn cuc cu h này chúng ta làm như mt cái ch v

Các báo c nhao nhao đăng bài, tường thut lung tung, đ ri ta liên tc b mui mt”. Blogger Nguyn Tn Thành không quên nhc ti “ni nhc ln nht” ca phía VN là khi máy bay “ln bãi cn vi du du tràn”. 

Như vy là c mt đi bay VN mà không nhn ra mt bãi cn hay dòng cát chy trong lãnh hi thì đây, theo blogger Nguyn Tn Thành, đã là “mt điu thm t ri, nhưng thông tin đó vn được truyn v mà “bao nhiêu cơ quan ban ngành cp trên vn không phát hin, li đ cho lên mt báo”. 

Tác gi xem chng như không dn được bc tc qua mt lot câu hi:
- Hi quân ca chúng ta qun lý vùng bin như vy chăng?
- B
đi biên phòng chúng ta qun lý vùng bin như vy chăng?
- Không quân chúng ta qu
n lý vùng bin như vy chăng?
- C
nh sát bin chúng ta qun lý vùng bin như vy chăng?
Chúng ta kém v năng lc, thiết b, không kinh nghim, chúng ta có th sai. Nhưng chúng ta không chp nhn các hot đng sai lm đó ca mình b phơi bày trên báo như mt cái ch. Không nhng đó là t huyt, là an ninh Quc gia mà k thù đang phân tích, mà đó là mt s huênh hoang, chy theo thành tích là đi tìm kiếm đu tiên khi nước ngoài nhìn vào ta.

Qua s tham d cu h va qua ca VN, nhiu bloggers nhn thy đông đo viên chc quân s cao cp ca VN “chy đôn chy đáo” cho công tác này khi VN huy đng c chc phi cơ đ lai cũng như các tàu hi quân, cnh sát bin, kim ngư vi s tham d ca lc lượng hùng hu, t hi, lc, không quân, phòng không, cc hàng không cho ti y ban quc gia tìm kiếm cu nn…Và lp c tr s ch huy trc tiếp công tác cu h này ti đo Phú Quc.

Nhưng, theo blogger Song Chi qua bài “Chuyn mt chiếc máy bay mt tích và sinh mng con người VN!”, thì mi người vn biết rng VN có trách nhim tham gia công tác này vi các nước láng ging, nht là khi chiếc máy bay Malaysia b cho là lâm nn trong không phn và hi phn VN, trong khi hành đng góp phn cu nn ca VN có tích cc hay không hn được c thế gii theo dõi. 

Nhưng, blogger Song Chi chua xót:
“Là người VN, chng kiến s nhit tình, không tiếc công tiếc sc, huy đng lc lượng ti đa ca nhà cm quyn trong chuyn này, ri nhìn li mi đây, ngày 8.3, mt tàu cá ca ngư dân VN li b “tàu l” (hai ch “tàu l” hèn h quen dùng) tn công, khng chế, cướp tài sn vì không được bt c lc lượng nào bo v khi ra khơi, mà chnh lòng.”

Ti sao ngư nhân Vit Nam gp nn, mt tích trên bin nhiu ln chng có ma nào tìm kiếm, ch tuyên b là b “tàu l” uy hiếp? 

-Blogger Vi
ết T Saigon
Trong khi nhng chiếc “tàu ly ngày càng xâm ln lãnh hi, bin đo VN, bt b đòi tin chuc, đánh đp, thm chí bn giết như dân VN bng hành đng chng khác nào hi tc, thì blogger Song Chi nêu lên câu hi rng “có my khi ngư dân Vit được các lc lượng hi quân, cnh sát bin, tàu chiến VN h tr hoc cu h không?  Hay như báo Thanh Niên tng đưa tin “ngư dân phi t thuê tàu đi cu nn?”, hoc khi ngư dân cu cu chính quyn thì “mi chuyn vn như cũ? ”. 

Trong khi đó, “ Hàng ngày hàng gi, trên khp mi lĩnh vc, mi min đt nước, chúng ta đu có th nghe, xem, đc, hoc tn mt chng kiến, hoc t tri nghim ca chính bn thân, v tình trng tính mng người VN đang b r rúng như thế nào”. Và tác gi kết lun:

“Khi nhà cm quyn VN t ra tích cc, thm chí “n ào” trong vic tìm kiếm chiếc máy bay Malaysia mt tích, nhiu người dân, thông qua các trang blog, trang mng xã hi, đã lên tiếng ch trích. Trong mt h, hành đng ca nhà cm quyn có cái gì đó như phô din, mun chng t vi các nước, thm chí, mun “ly đim” vi Trung Quc, quc gia có nhiu người nht đi trên chuyến bay đnh mnh. Và đáng nói nht, cuc trình din này li không h r!”

Trong khi đó, blogger Viết T Saigon “càng ngm càng thy l bch và máy móc”, ri xem chng như bc tc nêu lên câu hi vi gii hu trách VN, rng:
“Ti sao phi tuyên b lung tung cà cung lên nào là “tìm kiếm bng c trái tim, tm lòng…”, “mt cái thúng rái vn bơi đi tìm…” trong khi phô din nhng trò cũ rích, lc hu ra trước mt thế gii? Ti sao ngư nhân Vit Nam gp nn, mt tích trên bin nhiu ln chng có ma nào tìm kiếm, ch tuyên b là b “tàu l” uy hiếp? Phi chăng bên trong trò tìm kiếm, cu nn này tim tàng mt âm mưu?”

Cái “âm mưu” y xem chng như đáng ngi lm khi blogger Viết T Saigòn báo đng rng tàu chiến ca TQ đã “chính thc vào cuc”; và tác gi nêu lên câu hi, “nếu ch tìm kiếm, cu nn, ti sao Trung Quc không đưa tàu chuyên dng tìm kiếm cu nn đến mà li đưa tàu hi quân hng nng đến? 

Song hành vi vic này là mt ông tướng hi quân Trung Quc đưa ra đ xut cn xây sân bay trên qun đo Trường Sa, như vy là ý đ gì?”. Và “ti sao nhà cm quyn Vit Nam li chp nhn cho tàu chiến Trung Quc tiến vào vùng bin Vit Nam, li lăng xăng đ các trò không đâu vào đâu, din không ra din, tht cũng không ra tht, gi là phi hp tìm kiếm cu nn?”.

Qua bài “Đnh cao ca múa la lc vòng”, blogger Viết T Saigòn nhc  đến biến c hi năm 1945 khi Hitler cho máy bay quân s ngy trang c nước Áo đến di bom các khu cư xá ca nước Đc gây t vong cho hàng ngàn sinh viên đ ri Hitler tuyên chiến vi nước Áo. Và, trong hin tình Trung Quc đy bt n, người dân đã mt hết nim tin vào nhà cm quyn Cng sn Trung Quc, bo lc đã n ra, đc bit có liên quan đến người Duy Ngô Nhĩ (Uighur), tác gi hình dung ra rng:
“Bây gi, nhà cm quyn Trung Quc ch cn thí tt bng 239 mng người, sau đó tp trung mũi dùi vào người Duy Ngô Nhĩ gi là trng pht đ duy trì quyn lc trong nước bng bo lc, và bên ngoài, mượn c tìm kiếm cu nn, h bt tay vi chính quyn Cng sn Vit Nam cm luôn tàu chiến vùng bin phía Đông Nam Vit Nam. Như vy, mi vn đ v Bin Đông coi như tm gii quyết xong, Vit Nam cúi đu dâng bin cho Trung Quc vì tinh thn Cng sn anh em!”
Thanh Quang cm ơn quý v va theo dõi Tp chí Đim Blog hôm nay, và mong gp li tt c quý v kỳ ti.


Việt Nam ngưng tìm kiếm máy bay Malaysia mất tích

Đại tá Đỗ Đức Minh, Phó tham mưu trưởng quân chủng phòng không không quân, cạnh bản đồ khu vực tìm kiếm chuyến bay MH370 của hãng hàng không Malaysia bị mất tích.
Đại tá Đỗ Đức Minh, Phó tham mưu trưởng quân chủng phòng không không quân, cạnh bản đồ khu vực tìm kiếm chuyến bay MH370 của hãng hàng không Malaysia bị mất tích.
·    
·    
·    
·  

Tin liên hệ

Hình ảnh/Video

Video

Truyền hình vệ tinh VOA Asia 15/3/2014

Video

Hoạt động tìm kiếm máy bay mất tích Malaysia mở rộng

CỠ CHỮ 
17.03.2014
Việt Nam ngưng tìm kiếm chiếc máy bay Malaysia mất tích sau khi được tin Malaysia quyết định dừng các hoạt động tìm kiếm phi cơ MH370 tại Biển Đông.

Phó Tổng tham mưu trưởng Quân đội Việt Nam, trung tướng Võ Văn Tuấn, cho báo giới biết quyết định của phía Việt Nam được đưa ra sau khi đại sứ Việt Nam tại Malaysia chiều 15/3 cho hay Malaysia thôi tìm kiếm ở khu vực này.

Trong cuộc trao đổi với VOA Việt ngữ tối ngày 17/3, một cán bộ trực của Ủy ban Quốc gia Tìm kiếm Cứu nạn Việt Nam không muốn nêu tên xác nhận:

“Bây giờ phía Việt Nam tạm dừng tìm kiếm máy bay MH370 trên vùng Biển Đông rồi, dừng hai hôm nay rồi.”

Truyền thông nhà nước cho hay tới chiều ngày 16/3 tất cả tàu bè và máy bay từ các nước kể cả Trung Quốc gửi tới Việt Nam để tham gia công tác tìm kiếm đã rời khỏi lãnh hải Việt Nam.

Việt Nam nói đã huy động lực lượng hùng hậu nhất để tham gia nỗ lực quốc tế trong 8 ngày (từ 8 đến 15/3) tại Biển Đông, với 11 máy bay quân sự và 7 tàu các loại tìm kiếm trong phạm vi 100.000 cây số vuông trên mặt biển.

Giới chức Việt Nam không xác nhận tin nói rằng Việt Nam mỗi ngày đã tiêu tốn khoảng 20 tỷ đồng trong công cuộc tìm kiếm này, nhưng cho biết là chi phí rất cao trong phạm vi tìm kiếm sâu rộng như thế.

Tờ Thanh Niên dẫn lời Trung tướng Võ Văn Tuấn cho hay Bộ Quốc phòng đang kết toán tổng chi phí của cuộc tìm kiếm. Ông Tuấn nói đối với Việt Nam, ưu tiên hàng đầu là tìm cứu chiếc máy bay Malaysia và hành khách lâm nạn càng sớm càng tốt chứ không phải là vấn đề phí tổn.

Nhà chức trách Malaysia loan báo tiếp tục tìm kiếm chiếc Boeing 777 theo 2 hướng mới, từ Malaysia qua Thái Lan hướng tới Kazakhstan ở Trung Á và hướng ra bờ biển của Indonesia.
Việt Nam ngưng tìm kiếm máy bay Malaysia mất tích
Malaysia có thể sẽ yêu cầu các lực lượng nước ngoài hỗ trợ trong kế hoạch mở rộng này. Đáp câu hỏi liệu Việt Nam có kế hoạch gửi lực lượng tới những khu vực tìm kiếm mới nếu có đề nghị từ phía Malaysia, cán bộ trực tại trung tâm điều hành các hoạt động tìm kiếm cứu hộ của Việt Nam cho biết:

“Cái này thì phía Malaysia vẫn chưa yêu cầu và Việt Nam cũng cần cân đối về tình hình. Nếu Việt Nam có khả năng và có yêu cầu từ phía Malaysia thì Việt Nam cũng có thể gửi lực lượng sang. Tuy nhiên, cũng còn phải căn cứ vào phương tiện và lực lượng của Việt Nam nữa.”

Cùng với Việt Nam, lực lượng Philippines ngày 17/3 loan báo ngừng cuộc tìm kiếm tại Biển Đông.

Singapore cũng thông báo đưa tàu bè và máy bay ra khỏi khu vực tìm kiếm này nhưng cho biết sẽ tiếp tục hỗ trợ hoạt động tìm kiếm ở eo biển Malacca.

Chiếc máy bay của hãng hàng không Malaysia Airlines mất tích từ ngày 8/3 tới nay chỉ một giờ sau khi cất cánh từ phi trường quốc tế Kuala Lumpur để đi Bắc Kinh. Trên máy bay có 12 thành viên phi hành đoàn và 227 hành khách, đa số là người Trung Quốc.


'Không tìm thấy xác máy bay nơi TQ công bố các vật khả nghi'

Hình ảnh vệ tinh của Trung Quốc công bố hôm 13/3/2014 cho thấy 3 vật thể lớn trên đường bay nguyên thủy của chuyến bay bay về hướng Bắc Kinh.
Hình ảnh vệ tinh của Trung Quốc công bố hôm 13/3/2014 cho thấy 3 vật thể lớn trên đường bay nguyên thủy của chuyến bay bay về hướng Bắc Kinh.
·    
·    
·    
·  

Tin liên hệ

Hình ảnh/Video

Video

Malaysia mở rộng tìm kiếm ở cả hai phía bán đảo (VOA60)

Video

VN bác tin giảm bớt hoạt động tìm kiếm chiếc máy bay Malaysia mất tích

CỠ CHỮ 
13.03.2014
Đó là khẳng định của ông Hoàng Văn Nhã, giới chức đại diện Sở Chỉ huy tiền phương, đặc trách công các tìm kiếm chiếc máy bay mất tích, trên đảo Phú Quốc (tỉnh Kiên Giang), tối 13/3.

Ông Nhã cho VOA Việt Ngữ biết đã có rất nhiều chuyến bay đã được triển khai tới khu vực mà Trung Quốc nói là vệ tinh nước này đã chụp được 3 vật nghi là mảnh vỡ của chiếc máy bay Malaysia lâm nạn.

“Ngay ngày hôm nay khi nghe tin đó, lực lượng ở Việt Nam ra đó rất là nhiều, hai chuyến AN26 và hai chuyến CASA của lực lượng cảnh sát biển. Ngoài ra, cũng có máy bay của Hoa Kỳ, Trung Quốc, Singapore và Malaysia cũng đã kiểm tra khu vực đó. Ngay tại khu vực đó, chúng tôi cũng có một chiếc tàu xa cũng ở khu vực đó. Nói chung đã xác minh nguồn tin này và đến giờ chưa có kết quả gì”.

Hôm qua (12/3), Trung Quốc cho biết, một ngày sau khi chuyến bay MH370 với hơn 200 người trên khoang biến mất khỏi màn hình radar, vệ tinh của nước này đã phát hiện được ba vật thể lớn tại nơi chiếc Boeing 777 mất liên lạc.

Tọa độ ba vật thể được cho là nằm trong vùng biển giữa phía đông bắc Malaysia và phía nam Việt Nam. Ông Nhã cho hay, tọa độ của các vật thể này thuộc vùng quản lý của Singapore, nhưng phía Việt Nam cũng đã phối hợp tìm kiếm.

Tin mới nhất cho hay, Bộ trưởng Giao thông Malaysia nói rằng Bắc Kinh thừa nhận đã nhầm lẫn khi công bố các hình ảnh vệ tinh, và ‘không cho thấy bất kỳ mảnh vỡ nào từ chuyến bay MH370’.

Ông Hussein cũng bác bỏ tin tức trên báo chí Mỹ cho rằng chiếc máy bay xấu số đã tiếp tục bay 4 giờ đồng hồ sau khi mất liên lạc.

Trong cuộc họp báo thường kỳ hôm nay, phát ngôn viên của Bộ Ngoại giao Lê Hải Bình cho biết, trong những ngày tới, Việt Nam sẽ ‘phối hợp chặt chẽ với Malaysia’ trong việc tìm kiếm chiếc máy bay mất tích một cách bí hiểm.

Từ Sở Chỉ huy tiền phương trên đảo Phú Quốc, ông Nhã khẳng định công tác tìm kiếm của phía Việt Nam sẽ tiếp diễn.

“Chúng tôi vẫn tiếp tục. Ngoài khu vực đó [nơi hình ảnh vệ tinh Trung Quốc ghi lại], chúng tôi vẫn tiếp tục tìm kiếm tại các khu vực mà chúng tôi đã dự kiến từ trước thì hôm nay chúng tôi tiếp tục tìm kiếm. Thực ra trách nhiệm tìm kiếm là của nhiều quốc gia, không chỉ có Việt Nam, và bây giờ không biết cụ thể nó rơi ở vùng nào. Đến giờ này chúng tôi vẫn tiếp tục tìm kiếm. Tôi ở đây thì chưa nghe được lệnh gì khác”.

Có tin cho hay, Việt Nam phải chi tới 20 tỷ đồng mỗi ngày cho công cuộc tìm kiếm. Tuy nhiên, Nhã không khẳng định con số này.

Ông nói ‘chắc chắn là tốn kém nhưng mà số lượng bao nhiêu thì tôi không nắm được’.



Popular Posts